benh ho hap man tinh tren ga

10:33 PM |

BỆNH HÔ HẤP MÃN TÍNH TRÊN GÀ (CHRONIC RESPIRATORY DISEASE – CRD)

Bệnh hô hấp mãn tính trên gà và bệnh viêm xoang truyền nhiễm ở gà tây do Mycoplasma gallisepticum gây ra. Đặc điểm của bệnh là thở khó, ho, chảy nước mũi ở gà, trên gà tây thường gây viêm xoang.  Bệnh có biểu hiện lâm sàng chậm, tiến trình bệnh dài.
Bệnh được mô tả  lần  đầu tiên trên gà tây vào năm 1905 bởi Dodd (Anh) dưới tên Epizootic pneumoenteritis. Năm 1938, Dickinson và Hinshaw đặt tên là Infectious sinusitis trên gà tây. Năm 1935, Nelson đã mô tả một dạng cầu trực khuẩn (Coccobacilliform) liên quan đến bệnh Coryza (sổ mũi) ở gà. Năm 1943, Delaplan và Stuart phân lập được từ những phôi trứng bị CRD và những gà tây bị viêm xoang. Năm 1950, Markham, Wong, Van Roekel, Olesiuk báo cáo nuôi cấy thành công vi sinh vật này từ gà và gà tây. Đề nghị đưa chúng vào là thành viên của Pleuro – Pneumonia group (Pleuro – Pneumonia Like Organisms – PPLO) hay Mycoplasma spp. Hiện nay bệnh có ở khắp nơi trên thế giới. Ở Việt Nam, vào năm 1975 Đào Trọng Đạt kiểm tra thấy kháng thể kháng Mycoplasma trên nhiều đàn gà nuôi tập trung.
Căn bệnh
Mycoplasma thuộc lớp Mollicutes; Bộ Mycoplasmatales; Họ Mycoplasmataceae; Giống Mycoplasma.
Khoảng 22 loài thuộc giống Mycoplasma  được biết có nguồn gốc từ gia cầm. Trong đó, 5 loài đã gây bệnh cho gia cầm. Hai loài  gây bệnh cho  cả gà và gà tây là  M. gallisepticum (MG) M. synoviae (MS). Hai loài chỉ gây bệnh cho gà tây là M. meleagridis (MM),  M. iowae (MI). Loài  M. anatis (MA) gây bệnh trên vịt.
Mycoplasma  có kích thước nhỏ (300 – 800 nm), không có thành tế bào chỉ được bao bọc bởi màng sinh chất, vì tính chất này nên Mycoplasma  đề kháng với các nhóm kháng sinh tác động lên thành tế bào.  Mycoplasma có khả năng ngưng kết hồng cầu gà.
MG là vi khuẩn rất khó nuôi  cấy, yêu cầu môi trường nuôi cấy phải giàu chất dinh dưỡng, thời gian nuôi cấy dài. Vì thế, việc phân lập và nuôi cấy vi khuẩn này  mới được thực hiện trong nghiên cứu, chưa ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán bệnh nhằm phục vụ cho thực tế sản xuất.
Sức đề kháng
Hầu hết các chất sát trùng đều có hiệu quả đối với MG như: phenol, formol, propiolactone, methiolate.
MG yếu ớt khi ra bên ngoài cơ thể vật chủ và nó tồn tại hạn chế trong vài ngày hay ít hơn khi ở điều kiện chuồng nuôi bình thường. Nếu được bảo vệ bởi chất tiết hay nhiệt độ môi trường lạnh thì nó sẽ sống sót lâu hơn.
Tồn tại trong phân gà 1 – 3 ngày ở 20oC, ở quần áo mỏng 3 ngày tại 20oC, 1 ngày ở 37oC. Trong canh trùng, tồn tại 2 – 4 năm ở – 30oC, canh trùng đông khô tồn tại 7 năm ở 4 oC.  Ở lò ấp, MG trong trứng gà giống bị nhiễm, sẽ bị bất hoạt ở 45,6 oC trong 12-14 giờ trong quá trình sưởi ấm.
Động vật cảm thụ
Chia sẻ bị bệnh, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt
Trong tự nhiên Mycoplasma gallisepticum thường gây bệnh cho gà và gà tây. Gà mới nở mẫn cảm với bệnh nhất. Tuy nhiên, đã phân lập được  MG từ sự nhiễm trùng tự nhiên trên trĩ, công, chim cút, vẹt Amazon, vịt, ngỗng, hồng hạc.
Cách lây lan
Đường lây lan chính là tiếp xúc trực tiếp của gà mẫn cảm với gà bị bệnh. Sự nhiễm trùng còn được truyền qua trứng, vì thế nếu đàn gà bố mẹ bị nhiễm MG thì đàn con đã mang sẵn mầm bệnh. Ngoài ra, bệnh còn lây lan qua bụi khí bị ô nhiễm hay tiếp xúc với dụng cụ chăn nuôi bị ô nhiễm.
Triệu chứng
Trong điều kiện tự nhiên rất khó khăn để xác định chính xác thời gian nung bệnh (bệnh mãn tính),  thời gian này phụ thuộc vào sức đề kháng của gia cầm và điều kiện của môi trường bên ngoài. Trong điều kiện thí nghiệm, thời gian nung bệnh khoảng 6 – 21 ngày.
Gà giảm ăn, chảy nước mắt, chảy nước mũi, thở  khò khè, khó thở, khẹc. Ban đêm mức độ khò khè nặng hơn ban ngày. Sưng vùng mặt đặt biệt là xoang dưới mắt, xoang mũi. Viêm khớp, đi khập khiễng. Gà bệnh ốm, lông thô, xơ xác, đứng lim dim, tuy nhiên khi có tiếng động hay bị rượt đuổi gà vẫn di chuyển được khá nhanh. Gà đẻ giảm sản xuất trứng nhưng vẫn duy trì ở mức độ thấp.
Gà bệnh ốm, sưng mặt

Viêm khớp bàn chân (chân trái)

Bệnh CRD  là tiền đề cho các bệnh khác kết hợp và sẽ gây bệnh trầm trọng hơn. Bệnh thường xuyên kết hợp với  E. coli (Coli Chronic Respiratory Disease – C.CRD).  Bệnh C.CRD  ảnh hưởng nặng nề trên trên gà dò (khoảng 4-8 tuần tuổi), tỷ lệ chết đến 30%. Gà bệnh khó thở trầm trọng hơn, vươn cổ, há mỏ cụp đuôi khi thở. Viêm túi khí dạng nặng có tích nhiều casein. Viêm màng bao quanh gan, màng bao tim có casein. Gà đẻ giảm sản lượng trứng nhiều hơn và chất lượng vỏ trứng giảm (vỏ mỏng, mất màu, có máu dính ở vỏ trứng).

Thanh, khí quản xuất huyết

Túi khí viêm dày đục, tích casein
Phổi viêm
Casein bao phủ các cơ quan nội tạng
Khớp tích nhiều dịch viêm
Điều trị 
Các nhóm kháng sinh có khả năng tiêu diệt được Mycoplasma phổ biến trên thị trường là  nhóm tetracycline (tetracycline, chlotetracycline, oxytetracycline, doxycycline), nhóm macrolide (erythromycin, tylosin, josamycin, tilmicosin, tulathromycin…), nhóm lincosamide (lincomycin), nhóm quinolone (norfloxacin, enrofloxacin, danofloxacin). Trường hợp gà bị C.CRD thì trong 4 nhóm kháng sinh trên chỉ có 2 nhóm tetracycline và quinolon có thể sử dụng điều trị.  Nếu chọn nhóm macrolide hay lincomycin thì phải phối hợp thêm kháng sinh khác có thể tiêu diệt được E.coli thì mới trị được bệnh C.CRD.
Sử dụng thêm thuốc hổ trợ như gà khò khè nhiều bổ sung thêm bromhexin, tích casein thì bổ sung thêm a – chymotrypsin.  Ngoài ra cò bổ trợ thêm vitamin B, C, điện giải trong quá trình điều trị.
Một điều cần lưu ý là bệnh CRD có thể truyền từ gà bố mẹ sang gà con, nên khi úm gà con phải chọn thuốc có thể điều trị được bệnh này.
Phòng bệnh
  • Thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi
  • Cung cấp đầy đủ dinh dưỡng.
  • Vệ sinh, sát trùng chuồng trại thường xuyên.
  • Kiểm soát mầm bệnh trên đàn giống.
  • Vệ sinh máy máy ấp, máy nở để tránh lây lan mầm bệnh. Có thể xông bằng formol + thuốc tím  (40ml formol + 20g thuốc tím /m3).
Vaccine
  • Vaccine sống, nhược độc chủng F, thường dùng cho gà dò, chủng bằng cách nhỏ mắt, nhỏ mũi, phun xịt cho gà 10 ngày tuổi.
  • Vaccine chết nhũ tương dầu chống lại sự giảm sản xuất trứng ở gà đẻ, bảo vệ gà con, dùng 2 liều trước khi đẻ.

TS. Nguyễn Thị Phước Ninh,
PGS.TS Nguyễn Tất Toàn,
ThS. Nguyễn Thị Thu Năm,
TS. Lê Thanh Hiền,
Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Đại học Nông Lâm, Tp. HCM
Read more…

tong quan ve benh do e.coli tren ga de

10:19 PM |

Tổng quan về bệnh do E. coli trên gà đẻ

Giới thiệu
Bệnh do E. coli (Colibacillosis) là một hội chứng gây ra bởi Escherichia coli, một trong những bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn phổ biến nhất trên gà đẻ công nghiệp. E.coli luôn có mặt trong đường tiêu hóa loài cầm và theo phân thải ra ngoài; vì vậy, phân, nước, bụi và môi trường đều bị nhiễm (Charlton, 2006). Colibaccillosis gây tỷ lệ bệnh và tỷ lệ chết cao, làm tổn thất về kinh tế cho trại, nhất là lúc đỉnh điểm sản xuất trứng và vào cuối giai đoạn đẻ.
Colibacillosis thường xảy ra cùng lúc với các bệnh khác dẫn đến khó khăn trong việc chẩn đoán và quản lý. Trong hầu hết các trường hợp, Colibacillosis dễ thấy sau khi gà đã từng bị tổn thương do bệnh truyền nhiễm, thay đổi sinh lý, độc tố và/hoặc dinh dưỡng.
Đặc điểm của bệnh: dịch rỉ trong xoang bụng bao gồm huyết thanh, sợi huyết (fibrin) và các tế bào viêm (mủ). Sợi fibrin, có màu trắng đến vàng, là sản phẩm của phản ứng viêm và nó phủ trên bề mặt của nhiều cơ quan bao gồm ống dẫn trứng, buồng trứng, ruột, các túi khí, tim, phổi và gan.
Colibacillosis thường là nguyên nhân gây chết lẻ tẻ ở cả gà đẻ và gà giống và có thể đột ngột làm tăng tỷ lệ chết trong đàn gà. Viêm ống dẫn trứng do E. coli làm giảm sản xuất trứng và gây chết lẻ tẻ. Nó cũng là một trong những nguyên nhân gây chết phổ biến nhất trên gà giống đẻ và công nghiệp (Nolan, 2013).
Colibacillosis trên gà con mới nở làm chất lượng gà giảm và vệ sinh nơi ấp trứng kém dẫn đến tỷ lệ chết cao ở gà con.
Các hội chứng và nhiễm trùng tại chỗ hoặc hệ thống gây ra bởi vi khuẩn E. coli 
thuộc nhóm gây bệnh trên loài cầm (Nolan et al., 2013)
Các nhiễm trùng tại chỗViêm rốn/ Nhiễm trùng túi lòng đỏ
Viêm da 
Hội chứng sưng phù đầu 
Bệnh tiêu chảy
Viêm đường sinh dục (viêm âm đạo cấp tính)
Viêm ống dẫn trứng/phúc mạc
Viêm tinh hoàn/mào tinh hoàn
Các nhiễm trùng hệ thốngCác nhiễm trùng hệ thống Nhiễm trùng huyết do E. coli
Nhiễm trùng huyết xuất huyết
Thể u hạt (bệnh Hjarre)
Di chứng nhiễm trùng huyết do E.coliViêm màng não
Viêm não
Viêm mắt
Viêm tủy xương
Viêm màng hoạt dịch của khớp
Nguyên nhân
E.coli gây bệnh trên loài cầm (APEC) có thể là nguyên nhân gây bệnh chính hoặc là vi khuẩn cơ hội trên gà đã bị một nhiễm trùng trước đó. E. coli là vi khuẩn gram âm, hình que, cư trú bình thường trong đường tiêu hóa loài cầm. Hầu hết các chủng E. coli không gây bệnh, trừ một vài chủng có khả năng gây bệnh lâm sàng. Các chủng gây bệnh thường thuộc serotype O1, O2 và O78 (Kahn, 2010).
Do E. coli cư trú trong đường ruột nên nó sẽ được bài thải nhiều trong phân và chất độn chuồng. Ngoài ra, thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu thức ăn, nước uống và phân loài gặm nhắm bị ô nhiễm là nguồn gây nhiễm E. coli cho đàn. Do vi khuẩn tiếp tục bài thải ra môi trường, Colibacillosis có thể ảnh hưởng đến gà bất cứ lúc nào trong thời kỳ sinh trưởng và đẻ trứng. Tất cả các lứa tuổi của gà đều nhạy cảm với Colibacillosis, gà con (thời kỳ sinh trưởng) thường bị ảnh hưởng với bệnh nghiêm trọng hơn gà lớn.
Colibacillosis thường là nguyên nhân gây chết lẻ tẻ ở gà đẻ, nhưng trong một vài đàn nó là nguyên nhân gây bệnh chính gây chết trước hoặc sau khi đạt đỉnh điểm của sản xuất trứng (Kahn, 2010). Nhìn chung, E. coli gây bệnh hô hấp trong suốt thời kỳ đỉnh điểm sản xuất trứng và gây bệnh trên cơ quan sinh sản trong cuối giai đoạn đẻ trứng.
Các yếu tố dẫn đến Colibacillosis
Các yếu tố trong suốt thời kỳ đỉnh điểm của sản xuất trứngNhiều lứa tuổi trong đàn
Tiếp xúc với viêm phổi do Mycoplasma (M. gallisepticum hoặc M. synoviae) và/hoặc virus viêm phế quản truyền nhiễm
Thông thoáng kém cùng với bụi nhiều và/hoặc khí amoniac cao
Stress do sản xuất ở giai đoạn phát triển của gà con
Tăng mức độ lưu thông của hóc-môn bên trong (đặc biệt là oestrogen)
Các yếu tố trong cuối giai đoạn đẻ trứngLỗ huyệt bị tổn thương, cắn mổ và/hoặc bị sa một phần
Cường độ chiếu sang quá nhiều
Tầm vóc nhỏ
Kích thước trứng quá lớn
Đường truyền lây
E.coli có thể đi vào cơ thể bằng những con đường khác nhau.
1. Đường hô hấp
Gà hít vào bụi bị ô nhiễm là nguồn lây nhiễm E. coli (Colibacillosis) chủ yếu. Ngoài ra, nhiễm trùng gây tổn thương đường hô hấp (như bệnh Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, M. gallisepticumP. multocida, viêm thanh khí quản truyền nhiễm, …) hoặc kích thích từ bụi hay ammoniac có thể dẫn đến nhiễm trùng thứ cấp ở đường hô hấp. Các phản ứng bất lợi của các đường cấp vaccine cũng có thể gây tổn thương cho đường hô hấp. Hơn thế nữa, bất cứ sự phá hủy niêm mạc dọc khí quản có khả năng cho phép vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào máu dẫn đến nhiễm trùng huyết.
Vi khuẩn có thể tồn tại trong thời gian dài trong điều kiện khô ráo, vì vậy, việc giám sát và kiểm soát lượng bụi trong chuồng nuôi là rất quan trọng. Hệ thống thông khí có thể không hiệu quả trong việc loại bụi trong các chuồng nuôi gà đẻ hiện đại; nhất là trong mùa đông, độ thông thoáng khí bị hạn chế làm tăng tích lũy bụi và ammoniac. Nồng độ ammoniac tăng từ 25-100ppm làm tê liệt các lông rung dọc theo khí quản dẫn đến khả năng lọc bụi và vi khuẩn trong đường hô hấp giảm. Ngoài ra, không khuyến khích dọn sạch phân khi gà vẫn còn trong chuồng bởi vì tiến trình này phóng thích số lượng lớn ammoniac vào môi trường.
2. Đường tiêu hóa
Bệnh cầu trùng, viêm ruột, độc tố nấm mốc, kháng sinh, chất lượng nước kém và thay đổi thức ăn đột ngột có khả năng phá vỡ cân bằng hệ vi khuẩn bình thường của ruột.
E.coli gây bệnh xâm lấn trong đường ruột. Khi hàng rào niêm mạc bảo vệ bị xáo trộn, E. coli xâm nhập vào ruột qua nước, thức ăn, chất độn chuồng bị nhiễm. Nước uống nên được kiểm tra coliform thường xuyên, và xử lý nước khi phát hiện E. coli và các coliform khác cao. Xử lý thức ăn (như dùng nhiệt và formaldehyde) và các sản phẩm axit hữu cơ có thể giảm lượng vi khuẩn coliform trong thức ăn.
3. Qua da
Các vết thương trên da do trầy xước (mật độ quá đông hoặc chuồng nuôi cũ), do ngoại ký sinh trùng hoặc do hở rốn tạo cơ hội vi khuẩn gây bệnh xâm nhập.
 4. Đường sinh sản
 Nhiễm trùng di chuyển từ ống dẫn trứng trực tiếp đi vào xoang cơ thể của gà mái. Sự cắn mổ và sự sa trệ lỗ huyệt có thể dẫn đến viêm màng bụng.
Nhiễm trùng ống dẫn trứng, bệnh ở hệ hô hấp và chuyển gà (sau khi bắt đầu sản xuất trứng) có thể dẫn đến lòng đỏ nằm bên ngoài ống dẫn trứng với khả năng phát triển thành viêm màng bụng.
Ngoài ra, nồng độ oestrgen cao ở gà mái ở giai đoạn bắt đầu và kéo dài đỉnh điểm sản xuất trứng sẽ làm tăng khả năng nhạy cảm của gà với nhiễm trùng vi khuẩn do hệ miễn dịch giảm.
5. Hệ thống miễn dịch
Hệ thống miễn dịch của gà khỏe mạnh giúp chống lại E. coli trong môi trường tự nhiên. Các bệnh trước đó  làm giảm miễn dịch (như bệnh Gumboro (IBD), bệnh Marek, bệnh do Reovirus, bệnh do Adenovirus, CAV virus gây thiếu máu truyền nhiễm, …) làm tăng độ nhạy cảm của đàn gà với nhiễm trùng thứ cấp do vi khuẩn.
6. Viêm rốn (nhiễm trùng túi lòng đỏ, bệnh gà mềm)
Viêm rốn là một trong những nguyên nhân phổ biến gây chết ở gà trong tuần tuổi đầu. Cả E. coli and Enterococcus faecalis được tìm thấy như là vi khuẩn phổ biến gây chết trong tuần tuổi đầu (Olsen, 2012). Trứng dính phân nhiễm được xem như là nguồn nhiễm trùng quan trọng nhất, tuy nhiên, vi khuẩn có thể di chuyển tới từ ruột hay từ máu.
Nhiễm trùng E. coli qua rốn có thể liên quan tới túi lòng đỏ. Triệu chứng lâm sàng của viêm rốn bao gồm sưng, phù, đỏ và đóng vảy của vùng rốn hoặc/và túi lòng đỏ. Trong trường hợp nghiêm trọng, giữa lớp cơ và da bị dung giải, dẫn đến gà ẩm ướt và dơ hay còn gọi là bệnh gà mềm. Tỷ lệ bệnh viêm rốn tăng lên sau khi nở và giảm xuống sau khoảng 6 ngày (Nolan, 2013). Không có điều trị cụ thể nào cho viêm rốn trên gà. Bệnh được phòng bằng cách kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và vệ sinh trong suốt quá trình ấp trứng và/hoặc vận chuyển gà (Kahn, 2010). Ngoài ra, vệ sinh máy ấp trứng và khử trùng giữa các đợt ấp.
Thời kỳ ủ bệnh
Thời gian từ khi nhiễm trùng đến khi bắt đầu biểu hiện triệu chứng lâm sàng (thời kỳ ủ bệnh) thường 1 – 3 ngày, tùy thuộc loại vi khuẩn E. coli gây bệnh.
Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của Colibacillosis có thể khác nhau tùy thuộc vào loại bệnh (tại chỗ hay hệ thống).
Nhiễm trùng tại chỗ ít gặp, triệu chứng lâm sàng nhẹ hơn bệnh hệ thống. Gà bị bệnh thường nhỏ con, kém phát triển và thường đứng dọc theo tường hoặc dưới máng ăn hay máng uống.
Gà bị nặng kèm theo nhiễm trùng huyết thường uể oải, hôn mê và không phản xạ khi đến gần. Phân thường xanh chứa urat trắng vàng do chán ăn và mất nước.
Gà bị mất nước có da khô, sậm màu, dễ nhìn thấy ở phần chân.
Ngoài ra, viêm rốn ở gà con và gà dò (nhiễm trùng túi lòng đỏ/rốn) có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ bệnh xoang bụng.
Bệnh tích đại thể
Colibacillosis được chẩn đoán qua khám nghiệm xác chết, bệnh tích đại thể bao gồm viêm thanh mạc, viêm màng ngoài tim và viêm màng bao quanh gan, viêm túi khí và viêm màng bụng (Bradbury, 2008).
Dấu hiệu sau khi chết phổ biến trong các trường hợp bị Colibacillosis gồm sợi fibrin, mảnh vỡ lòng đỏ hoặc dịch sữa trong xoang bụng, trong và xung quanh các khớp và trên bề mặt của nhiều cơ quan. Trong trường hợp viêm phúc mạc, có casein trong xoang bụng, lòng đỏ đông lại thường được gọi là viêm túi lòng đỏ (Nolan, 2013).
Chẩn đoán
Chẩn đoán Colibacillosis dựa vào phân lập và định danh E. coli từ bệnh tích. Hơn nữa, có thể kiểm tra phân biệt E. coli gây bệnh cho loài cầm (APEC) với E. coli hội sinh bằng chẩn đoán phân tử như PCR (Nolan, 2013).
Biện pháp can thiệp
Quy trình quản lý
Kiểm soát hiệu quả và ngăn chặn Colibacillosis tùy thuộc vào việc định danh và loại trừ các nguyên nhân gây bệnh. Duy trì an toàn sinh học cho đàn gà trong việc kiểm soát và phòng bệnh. Mục đích là giảm mức độ nhiễm E.coli bằng cách cải thiện an toàn sinh học, vệ sinh, hệ thống thông khí, dinh dưỡng và miễn dịch cho đàn gà.
Các yếu tố quản lý để kiểm soát Colibacillosis
An toàn sinh họcGiảm nhiễm E.coli và ngăn các tác nhân truyền nhiễm khác.
Cải thiện vệ sinh môi trường (chuồng nuôi, trạm ấp).
Nguồn gà con sạch bệnh.
Giảm tỷ lệ trứng bị dính phân, làm sạch ổ đẻ và giảm số lượng trứng đẻ trên sàn chuồng.
Xử lý thức ăn để làm giảm số lượng vi khuẩn (ép viên, formaldehyde, axit hữu cơ).
Thường xuyên thu nhặt gà chết.
Dinh dưỡngBổ sung các chất phụ gia giúp cho hệ thống miễn dịch khỏe mạnh và tăng khả năng sống sót
Tăng cường Selen
Tăng cường vitamin A và E
Tỉ lệ protein thích hợp
Các Probiotic tăng loại trừ các yếu tố cạnh tranh
Hệ thống thông thoáng khíCải thiện chất lượng không khí và độ thông thoáng để giảm bụi và ammoniac. 
Giảm thiểu sử dụng máy quạt gió lá và máy cắt để giảm lây lan môi trường.
Hệ thống miễn dịchBảo vệ hệ thống miễn dịch bằng cách phòng các bệnh suy giảm miễn dịch (như IBD/ Gumboro) và các nhiễm trùng khác do vi khuẩn và virus (IB, M. gallisepticum).
Chương trình tiêm vaccine hiệu quả kết hợp với vaccine các chủng phù hợp.
Kiểm soát phản ứng vaccine đường hô hấp.
Duy trì hệ vi sinh vật đường ruột tốt (kiểm soát bệnh cầu trùng).
Thường xuyên kiểm tra huyết thanh học.
Giảm stress.
Theo dõiKiểm soát tỉ lệ bệnh/ngày của gà mỗi vài tháng qua ghi chép.
Chẩn đoán sớm và điều trị.

Nguồn: channuoigiacam.com
Read more…

benh cau trung moi de doa nghiem trong den duong tieu hoa cua ga

10:14 PM |

Bệnh cầu trùng – mối đe dọa nghiêm trọng đến đường tiêu hóa của gà


Gà được nuôi trên chuồng nền có chất độn chuồng, rất nhạy cảm với bệnh cầu trùng. Bệnh do ký sinh trùng gây ra và rất khó kiểm soát. Tuy nhiên, việc hiểu biết và nhận biết được bệnh sẽ giúp kiểm soát và giữ đường ruột của gà khỏe mạnh.
Bệnh cầu trùng là một trong những bệnh quan trọng nhất gây thiệt hại về kinh tế.Trong bài phát biểu về bệnh mới nhất ở Hội nghị khoa học về gia cầm, nhà nghiên cứu bệnh cầu trùng, GS.TS. Chapman đã nói: “Ngày nay rất khó để đánh giá thiệt hại mà các ký sinh trùng này gây ra trên đàn gà. Quả thật, nếu không có biện pháp kiểm soát thích hợp, phối hợp cả biện pháp hóa học và biện pháp vắc-xin, có thể gà công nghiệp hiện đại không thể phát triển được đến mức độ như hiện nay”.
Ảnh hưởng nghiêm trọng về kinh tế
Nhìn chung, sức khỏe đường ruột là điều kiện tiên quyết quyết định công nghiệp gà thịt có thể tồn tại về mặt kinh tế. Giá trị của việc chuyển thức ăn chăn nuôi thành thịt trong chăn nuôi gà tạm tính như sau: 52 tỉ con gà, tiêu thụ mỗi con 4 kg thức ăn, đòi hỏi 208 triệu tấn thức ăn được sản xuất toàn cầu trong chăn nuôi gà công nghiệp. Ước tính trung bình, mỗi 2,5 kg trọng lượng sống, mất khoảng 0,1 euro để kiểm soát bệnh cầu trùng và tương tự, mất 0,1 euro cho kiểm soát các bệnh viêm ruột do vi khuẩn, do đó, trung bình mất trên 10 tỉ euro trong chăn nuôi gà công nghiệp. Điều quan trọng là hầu như 70% chi phí ước tính này là do bệnh cầu trùng tiềm ẩn bằng cách tác động đến tăng trọng và hệ số chuyển hoá thức ăn. Một trong những nguyên nhân đáng chú ý là khó chẩn đoán bệnh dạng tiềm ẩn. Hiển nhiên, như mức chi phí này là trung bình, một số công ty sẽ có mức chi phi thấp hơn và một số công ty có mức chi phí cao hơn nhiều do hai rối loạn đường ruột là quan trọng.
Hệ thống tính điểm bệnh tích
Để đánh giá mức độ kiểm soát và giải thích các giá trị thêm vào của các chất phụ gia, các quy trình quản lý và chiến lược thức ăn, tính điểm gà thịt ở các lứa tuổi khác nhau là quy trình phổ biến để ước tính mức độ bệnh cầu trùng bởi vì hệ thống tính điểm bệnh tích đã được khuyến cáo. Gần đây, một quy trình tính điểm cho bệnh viêm ruột do vi khuẩn, trong đó có bệnh cầu trùng là nguyên nhân chính quan trọng nhất, đã được đề xuất và đang phổ biến để có một bức tranh hoàn chỉnh hơn về tình trạng sức khoẻ đường ruột cho các đàn gà thịt, nhằm tăng sự điều chỉnh và cải thiện về kỹ thuật cũng như thành tích tài chính của chăn nuôi gia cầm.
Ký sinh trùng đơn bào
Nguyên nhân gây bệnh cầu trùng là ký sinh trùng đơn bào thuộc giống Eimeria, phát triển trong đường ruột của vật nuôi, động vật và chim hoang dã. Ở gà, có 7 loài khác nhau, mỗi loài có một đoạn ruột thích hợp để ký sinh và gây ra các bệnh tích khác nhau. Các loài quan trọng nhất trên gà thịt là E. acervulina, E. praecox, E. maxima, E. mitis và E.tenella. Trên gà có đời sống dài hơn như gà đẻ và gà giống, cũng có thể nhiễm E. necatrix và E. brunetti.
Vòng đời trực tiếp
Loài Eimeria có vòng đời trực tiếp, vì vậy không cần có ký chủ trung gian để hoàn thành vòng đời. Vòng đời của Eimeria khoảng từ 4-7 ngày. Gà ăn phải noãn nang gây nhiễm trong chất độn chuồng sẽ bị nhiễm bệnh. Các giai đoạn sinh sản vô tính khác nhau, ký sinh trùng xâm lấn vào tế bào ruột để nhân lên, phân chia bên trong tế bào và tiếp tục xâm lấn vào nhiều tế bào khác, cuối cùng giai đoạn biệt hoá giới tính thành giao tử đực và giao tử cái để tạo thành noãn nang mới, theo phân bài thải ra ngoài.
Để lây nhiễm, noãn nang phải hình thành bào trùng thành noãn nang gây nhiễm, điều này đòi hỏi điều kiện đặc biệt về ẩm độ, nhiệt độ và oxy trong môi trường. Noãn nang được bảo vệ rất tốt để tồn tại và khó bị phá huỷ bởi chất sát trùng, nó có thể tồn tại trong trại nhiều năm.
Không phải tất cả đều giống nhau
7 loài EimeriaI gây nhiễm trùng trên gà có mức độ quan trọng không giống nhau. Khả năng gây bệnh tuỳ thuộc đoạn ruột bị tác động, sự xâm lấn màng nhầy sâu hay cạn và khả năng sinh sản, số lượng chu kỳ sinh sản vô tính để hoàn thành vòng đời. Tuỳ thuộc vào loài, số lượng và vị trí nhiễm trùng, cầu trùng có thễ dẫn đến viêm ruột giới hạn gây mất nước và hấp thu dưỡng chất kém, viêm và sự phá huỷ thành ruột dẫn đến xuất huyết trong phạm vi rộng và chết.
Nhìn chung, các loài đã được nhận biết trên gà thịt, nguyên nhân gây bệnh phổ biến nhất là E. acervulinaE. maxima và E. tenell. Các nhà chăn nuôi, đều biết rõ điều này. Cầu trùng gây bệnh trên manh tràng gây tổn thương lan rộng với bệnh tích đại thể rõ ràng và mất máu qua phân nên người chăn nuôi cũng dễ dàng nhận ra.
Mặt khác, khi mổ khám tử trên quy mô lớn, trong 3 loài đã đề cập thì E. tenella là ít gặp nhất. Cũng như, tổn thương bị giới hạn ở manh tràng, ảnh hưởng lên tăng trưởng và hệ số chuyển hoá thức ăn là tối thiểu.Chẩn đoán bệnh trên lâm sàng gây ra bởi E. tenella thì rất dễ và giải quyết (điều trị trong thời gian ngắn, thay đổi biện pháp phòng ngừa dài hạn) có thể hoàn thành nhanh chóng.Điều này ảnh hưởng đến năng suất của gà thịt công nghiệp tương đối hạn chế so với các loài khác, mặc dù nhiều người nuôi gà thịt luôn đồng hành với bệnh cầu trùng, đặc biệt bệnh cầu trùng ở manh tràng.
Hình dạng khác nhau
  1. acervulina và E. maxima, cả hai đều phổ biến, trên thực tế ít quan sát được triệu chứng lâm sàng của bệnh. E. acervulina gây ra các bệnh tích giống như các bậc thang hay các đốm trắng trên tá tràng và nhiễm trùng nặng trên đoạn trên của không tràng. E. maxima gây ra xuất huyết điểm bằng đầu đinh ghim và bong tróc biểu mô đoạn giữa của ruột dẫn đến phân chứa chất nhầy có màu cam. Để đánh giá mức độ thiệt hại của 2 loài này có thể dùng thang điểm bệnh tích.
Triệu chứng lâm sàng
Biểu hiện lâm sàng trên gà: suy yếu, ủ rũ, đứngrụt cổ và xù lông. Gà lạnh nên đứng dưới nguồn nhiệt. Phân bất thường: chất nhờn có màu cam và có máu hoặc nhiều nước. Một trong biểu hiện lâm sàng đầu tiên và ngay cả bệnh cầu trùng tiềm ẩn là nhợt nhạt.Tỉ lệ chết tăng.Khi mổ khám tử, bệnh tích điển hình khác nhau giữa các loài (xem trong hình).
Bệnh cầu trùng lâm sàng chỉ là phần nổi của tảng băng, trước khi có dịch nổ ra, năng suất sẽ bị giảm do bệnh cầu trùng tiềm ẩn.Trong thể tiềm ẩn của bệnh, ký sinh trùng gây tổn thương tế bào ruột và hàng rào bảo vệ niêm mạc. Không chỉ hấp thu kém mà còn gây phản ứng viêm và làm thay đổi hệ vi sinh vật, dẫn đến viêm ruột hoặc loạn khuẩn đường ruột và góp phần làm chất độn chuồng bị ẩm ướt.
Biểu hiện lâm sàn của bệnh cầu trùng là suy yếu, ủ rũ, đứng rụt cổ và xù lông
Biểu hiện lâm sàn của bệnh cầu trùng là suy yếu, ủ rũ, đứng rụt cổ và xù lông
hinh4_cau-trung

Phân có chất nhầy màu cam là dấu hiệu ban đầu của bệnh cầu trùng
Phân có chất nhầy màu cam là dấu hiệu ban đầu của bệnh cầu trùng
hinh5_cau-trung

Phân có máu cho biết sự hiện diện của cầu trùng, trong trường hợp do E. tenella
Phân có máu cho biết sự hiện diện của cầu trùng, trong trường hợp do E. tenella
Xuất huyết manh tràng do E. tenella
Xuất huyết manh tràng do E. tenella
Các dấu hiệu khi mổ khám tử
  • thành ruột trong suốt, mỏng, dễ rách
  • ruột phình lên
  • xung huyết ở mạch máu của màng treo ruột và màng thanh dịch của ruột
  • khi cắt thành ruột mềm, thiếu tính đàn hồi
  • chứa bọt khí hoặc nước
  • các mảnh thức ăn được tiêu hoá kém ở đoạn cuối của đường tiêu hoá
Khi thăm một trại bị ảnh hưởng điển hình, các dấu hiệu thường gặp là:
  • Chất độn chuồng ẩm ướt, giai đoạn đầu thấy ở khu vực dưới ống dưới nước và máng ăn, đóng thành khối, trong nhiều ca bệnh nghiêm trọng chất độn chuồng ướt là phổ biến
  • Chất độn chuồng ẩm ướt và có chất nhầy
  • Phổ biến, phân có chất nhầy và mảnh thức ăn do tiêu hoá kém
  • Tiêu thụ thức ăn giảmtrong khi tiêu thụ nước hàng ngày tăng. Điều này làm tăng tỉ lệ nước/thức ăn (WFR).
Trong suốt giai đoạn điển hình của viêm ruột, tỉ lệ nước/thức ăn vượt quá 2 lần so với bình thường. Giai đoạn sau, lượng nước tiêu thụ cũng giảm.Bởi vì chất độn chuồng ẩm ướt nên bộ lông của gà bị dơ và hoạt động ăn, uống giảm.
Ba yếu tố ảnh hưởng
Phân lập được số lượng lớn Clostridium perfringens, nhất là đoạn đầu của đường ruột của gà bị bệnh cầu trùng so với gà khỏe mạnh, viêm ruột do vi khuẩn thường kết hợp với viêm ruột hội tử. Ba yếu tố ảnh hưởng kết hợp với viêm ruột do vi khuẩn: nguyên liệu thức ăn gây ra viêm ruột do vi khuẩn, bệnh cầu trùng (thể tiềm ẩn) và quản lý. Bởi vì viêm ruột do vi khuẩn hiện nay là một trong những vấn đề quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng suất gà thịt công nghiệp, vai trò của bệnh cầu trùng trong điều kiện đa yếu tố phải được đánh giá cẩn thận.
Phải làm gì?
Nếu có bệnh cầu trùng xảy ra ở một trại, điều quan trọng là xem xét quá trình diễn biến trong thời gian ngắn và lâu dài. Điều trị ngay lập tức để tránh thiệt hại hơn nữa, nhưng phải có chương trình chống cầu trùng phù hợp cho đàn gà tiếp theo. Thuốc chống cầu trùng như totrazuril, amprolium và các sulphonamide có thể cấp trong nước uống. Bởi vì nguy cơ phát triển cầu trùng đề kháng thuốc, các thuốc này nên chỉ dành cho điều trị và không nên sử dụng cho phòng bệnh.
Hai biện pháp
Có 2 biện pháp để phòng bệnh cầu trùng: phòng bệnh bằng thuốc và vắc-xin.
Phòng bệnh bằng thuốc chống cầu trùng là rất phổ biến nhưng làm giảm tính nhạy cảm và sự đề kháng thuốc đang ngày càng tăng trong khi chưa tìm ra được hợp chất chống cầu trùng nào mới. Có thể tránh sự đề kháng thuốc bằng chương trình sử dụng thuốc chống cầu trùng xoay vòng.
Đã có các vắc-xin sống nhược độc hoặc không có độc lực nhưng làm tăng chi phí, vắc-xin sống cần tế bào vật chủ để nhân lên và để kích thích hệ miễn dịch hoạt động, dẫn đến bệnh cầu trùng dạng tiềm ẩn và đây là một sự bất lợi. Điều này liên quan tới năng suất giảm và không kích thích tăng trưởng; ngay cả vắc-xin nhược độc được xem xét bởi nhiều nhà chăn nuôi gà, do tỉ lệ viêm ruột do vi khuẩn cao hơn. Mặt khác, lợi thế chính của vắc-xin sống là khả năng thay đổi mức độ kháng thuốc của cầu trùng bằng cách thay thế chủng đề kháng với các chủng vắc-xin nhạy cảm với thuốc chống cầu trùng. Cách tiếp cận của vắc-xin sống sẽ tối đa hoá hiệu quả của thuốc chống cầu trùng là rất quan trọng và ngoài ra, việc ngưng dùng thuốc chống cầu trùng là biện pháp nhanh nhất và hiệu quả để giảm tỉ lệ cầu trùng đề kháng thuốc. Trong hầu hết các trường hợp việc ngưng các loại thuốc chống cầu trùng cũng sẽ cải thiện được tình trạng nhạy cảm với các loại thuốc chống cầu trùng, nhưng cũng sẽ mất nhiều thời gian đạt được cải thiện tương tự.
Chi phí và hiệu quả
Để kiểm soát bệnh cầu trùng, hiện nay, việc xoay vòng sử dụng thuốc chống cầu trùng và vắc-xin là cách tốt nhất để giảm chi phí sản xuất cho cả bệnh cầu trùng và bệnh viêm ruột do vi khuẩn. Chi phí và hiệu quả của chương trình nên được ước tính bằng cách xem xét năng suất trên một số đàn, không chỉ một chu kỳ (hay một lứa gà).
Khí hậu và chuồng trại
Điều kiện quan trọng cho ký sinh trùng hoàn thành vòng đời là môi trường, sau khi gà thải ra trong phân, cho phép noãn nang trở thành noãn nang gây nhiễm.Vì vậy, điều kiện khí hậu và chuồng trại là yếu tố chìa khoá để kiểm soát bệnh cầu trùng.
Trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, ký sinh trùng có thể nhân lên nhanh chóng và lây nhiễm nhanh chóng. Kiểm soát được khí hậu bên trong chuồng nuôi sẽ có lợi trong việc kiểm soát độ ẩm ướt của chất độn chuồng, cũng như hạn chế tối thiểu điều kiện có lợi cho bệnh viêm ruột do vi khuẩn.
∗ Ghi chú: bệnh viêm ruột do cầu trùng cũng được xếp vào nhóm bệnh viêm ruột do vi khuẩn.
Biên dch: Chăn nuôi gia cm
Theo worldpoultry
Read more…

chua benh thuong gap o ga

9:50 AM |

Chữa bệnh thường gặp ở gà



Read more…

cac benh thuong gap tren ga noi

9:08 AM |
Cty TNHH Gà giống hưu chiến

Read more…